Một vài nghiên cứu về Cổ Loa,thành hoài cổ

administrator

Administrator
BẢN ANH HÙNG CA DỰNG NƯỚC XÂY THÀNH CHỐNG NGOẠI XÂM CỦA VUA THỤC AN DƯƠNG VƯƠNG​
Mảnh đất cổ loa xưa cũ
Cách thủ đô Hà Nội chưa đầy 20 Km , mảnh đất Cổ Loa lịch sử hiện ra trước mắt ta với những ruộng lúa xanh rờn,những dải đồi đất màu son nhạt trồng trám , trẩu, cau, chè, những khúc thành cổ bị thời gian phá hủy, mưa nắng xói mòn, với cỏ dại, cây hoang thấp bé bao phủ. Cây đa cỏ thụ già hơn nghìn tuổi nhô cao nổi bật trên nền trời.

Quua cầu Sa và ngôi miếu nhỏ thờ thần Rùa Vàng là đến chợ Sa họp một tháng sáu phiên đông vui rộn rịp. Quá cửa thành phía nam và xóm chợ là xóm Chùa. KHông khí cổ kính bao trùm toàn bộ khu di tích lịch sử với mái đình Cổ loa cong vút, với cây đa tỏa bóng rợp sân đình, gốc đa rẽ đôi thành một cửa tò vò mở ra trước am mị Châu , con gái vua Thục. Trong am thờ một hòn đá na ná như pho tượng cụt đầu, cách am không xa là đền thượng thờ vua Thục xây dựng trên một gò đất, nhìn ra phía trước đền thấy hồ sâu hình bán nguyệt, giữa hồ là giếng Ngọc, nơi Trọng thủy tên gián diệp xấu xa đã chết chìm.

Nhân dân Cổ loa mở hội đền vào mồng 6 tháng giêng để tỏ lòng tôn kính vị anh hùng dựng nước Âu Lạc. Tục ngữ địa phương có câu: “ Chết bỏ con cháu, sống không bỏ mồng sáu tháng giêng”. Ngày xưa hội đền kéo dài từ mùng 6 đến 18 tháng giêng với sự tham gia của 7 xã quanh vùng. Nay hội đền không còn tấp nập như xưa nhưng khách tham quan Cổ Loa hầu như không ngày nào vắng. Từ già đến trẻ, từ em học sinh đến nhà nghiên cứu, từ khachcs trong nước đến khách nước ngoài ai ai cũng thích thú hành hương về mảnh đất cổ kính gợi lại những kỉ niệm bi đát mà hào hùng về một giai đoạnn lịch sử đầy biến động, kỉ niệm về bi kịch mất nước của nhân dân việt cổ, một trong những bi kịch mất nước xưa nhất trong lịch sử loài người.

Các cụ già ở Cổ Loa gọi làng mình bằng cái tên cổ kính của nó là chạ chủ , gọi cánh đồng Cổ Loa là cánh đồng Chủ, thành Cổ Loa là thành chủ, vua Thục An Dương là vua Chủ, đền Thượng thờ vau là đền chủ và ngày hội mồng 6 tháng giêng là hội đền chủ. Cám ơn các vị bô lão ấy đã giúp chúng ta tìm ra được từ nguyên của địa danh Cổ Loa. Dựa trên phương pháp của ngữ âm học lịch sử, chúng ta biết rằng Chủ xưa đọc là Trũ, mà trước thế kỷ XVIII, âm tr trong tiếng việt cũng đọc là bl hay kl. Vậy Chủ hay Trủ đã được đọc là Blủ hay Klủ, từ đó được phiên âm chữ Hán là Khả Lũ, rồi được thành Kim Lũ, được đọc là Kẻ Chủ, Kẻ Lủ, và cuối cùng là Cổ Loa(1).
Cách đây khoảng hơn hai nghìn năm, khi nước văn Langn dòn đang cường thịnh ở trung du và đồng
bằng Bắc Bộ thì ở phía đông bắc nước đó nổi lên một liên minh bộ lạc của nguời Âu Việt mà điểm trung tâm là miền đồng bằng phì nhiêu Cao Bằng ( tỉnh Cao Lạng ngày nay ). Nếu người Lạc Việt của nước Văn Lang là tổ tiên của người Việt, người Mường thì người Âu Việt chính là tổ tiên của người Tày, người Nùng ngày nay. Vào buổi bình minh của lịch sử, sự phân hóa các tộc người còn chưa rảnh rẽ, và sự hợp nhất giữa các bộ tộc gần nhau về địa vực, dòng máu, trình độ phát triển văn hóa vật chất và tinh thần là một nhu cầu tất yếu, nhất là trước nguy cơ bành trướng và xâm lược đến từ phương bắc. Đó là cơ sở của sự hợp nhất giữa hai liên minh bọ tộc Lạc Việt, Âu Việt và sự ra đời của nước Âu Lạc.

Âu và Lạc đều cùng nòi giống việt, lãnh thổ của hai bộ tộc nằm cạnh nhau. Truyền thuyết Việt về bố Rồng ở miền biển cưới mẹ Âu ở miền núi hay truyền thuyết Mường về chàng cá lấy nàng Hươu sao phản ánh sợ tiếp xúc và mối quan hệ gắn bó lâu đời giữa người Lạc việt và người Âu Việt. Âu giữ rừng vàng, lạc coi bể bạc. Lạc giúp Âu sản phẩm miền xuôi: lúa, gạo, cá mú, ngọc trai, muối ... Âu đổi cho Lạc sản phẩm của núi rừng : kim loại, ngà voi, sừng tê, gỗ quí ... Âu cũng chế tạo đồ đồng thau, cũng canh tác nông nghiệp, cúng có tục cắt tóc, xăm mình, nhuộm răng, ăn trầu như Lạc. Giữa hai bộ tộc có giao lưu kinh tế, văn hóa, hôn nhân nhưng không tránh khỏi xung đột, lấn át nhau. Vào nửa đầu thế kỷ III trước công nguyên, Thục phánn được cử làm thủ lĩnh liên minh bộ tộc Âu Việt ở vùng Việt Bắc và tìm cách phát riển thế lực xuống miền nam thuộc địa bàn thống trị của vua Hùng.

vIệc Thục Phán cầu hôn với vua Hùng thứ 18 có thể là một mưu mẹo để sáp nhập nước Văn lang vào địa bàn Âu Việt nhân sự suy yếu của vua Hùng. Cuối cùng, người thủ lĩnh trẻ tuổi và tài giỏi là Thục Phán đã phát triển đạo quân tiến đánh kinh đô nước Văn Lang, đánh đổ triều Hùng, dựng nên nước mới là Âu Lạcgồm đất đai của người Âu ở phía bắc và đất đai người LẠc ở phía nam rồi dời đô từ vùng đồi núi xuống miền đồng bằng Cổ Loa, khẳng định ý chí, niềm tin và quyết tâm của nhân dân Âu LẠc giữ vững nền độc lập của mình.
Sự thống nhất giữa hai lãnh thổ và hai bộ tộc đã làm nên sức mạnh mới, đã nâng cao ý thức dân tộc của người Việt cổ. Âu LẠc ra đời sự kế tục và phát triển trên một mức cao hơn quốc gia Việt Nam đầu tiên, là sự chiến thắng của tình đoàn kết dân tộc ở thời cổ đại.




THÀNH CỔ LOA, MỘT KỲ CÔNG KỸ THUẬT QUỐC PHÒNG CỦA NHÂN DÂN ÂU LẠC

Truyền thuyết dân gian Cổ Loa kể rằng ban đàu vua Thục đóng đô ở chạ tó, nay là xã uy Nỗ cách Cổ Loa một quả gò gọi là gò vua. Nhưng bầy chó săn của vua cứ chạy mãi sang phần đất chạ chủ, vua sang bên ấy thấy cả một phong cảnh kỳ thú hiện ra trước mắt : dồng Hoàng Giang uốn lượn, mạch đất cao ráo với nhiều sống đất tựa như những con rồng uốn khúc đổ dồn xuống trung tâm chạ chủ. Vua bàn bạc với tướng Cao Lỗ rồi quyết định dời đô về chạ chủ.

Ý đồ của vua là xây dựng nên một nơi đô hội giữa trung tâm đất nước, đồng thời là một pháo đài phòng ngự, một thành lũy chống ngoại xâm. Quan sát nghiên cứu thành chủ , người ta vó thể khẳng định đây là một công trình kiến trúc quân sợ vĩ đại, được thiết kế và qui hoạch rất chu đáo, hợp lý và sáng tạo trên cơ sở triệt để lợi dụng thế đất, đồi gò, sông đầm ... Có lẽ hàng vạn dân công đã được huy động để xây thnàhh.

Theo lời kể của dân gian, đền Thượng Cổ Loa được xây dựng ngay trên nền cung điện cũ của vua Thục, đình được xây dựng trên điện ngự triều, bên cạnh cung cấm có vườn thượng uyển và hồ sen, nay là khu vực xóm Lan Trì. Bao bọc khu cung cấm là một tòa thành được gọi là thành nội cao 5 m, mặt trên rông từ từ 6 đến 12, chân choãi rộng từ 20 đến 30m, chung quanh có đào hào sâu và rộng cho thuyền lớn đi lại được. Ở bốn góc thành và rải rác trên mặt thành đắp thành những ụ hỏa hồi, từ dấy quân của vua Thục bắn xuống bọn giặc ngoại xâm.

Bên ngoài khu vực của là hoàng gia là khu vực của các quan văn võ. Vua cho đắp một tòa thành trung tâm dài hơn 6 km. Quan lại và quân đội đóng trong khu vực giữa thành nội và thành trung, quanh thnàh cũng đào hào sâu rộng khơi nước Hoàng Giang và đầm cỏ chảy vào. Ở xóm Vang ngày nay còn có một khu vực gọi là vườn thuyền.
Ngoài thành trung là thành ngoại dài 8 km mở ra 4 cửa: cửa nam, cửa bắc, cửa tây nam và cửa đông. Trên 3 vòng thành khép kín có cả thảy 72 ụ hỏa hồi, những nơi vừa dùng để đốt lửa báo hiệu có giặc, vừa dùng đẻ bắn tỉa. Truyền thuyết dân gian cho biết ban đầu có tiên giúp vua xây thành: đêm đêm khi bốn bề yên tĩnh, từ trên không trung xuất hiện hàng vạn nàng tiên đẹp hư hoa, thướt tha như liễu tới tụ họp trên cánh đồng làng Tiên Hội cạnh kinh đô để cùng nha gánh đất xây thành giúp vua. Nhưng rồi tinh lợn sề, tinh gà trắng cứ quấy phá mãi, thành đắp rồi lại đổ, cứ thế trong 18 năm ròng.
Giữa lúc ấy thần Rùa Vàng xuất hiện giúp vu xây thành vững chắc, lại tặng vua chiếc móng kì diệu để chế chiếc nỏ thần trăm phát trăm trúng. Thần thật ra là một người anh hùng văn hóa Việt cổ đã sáng suốt chỉ ra nguyên nhân thực sự của tai nạn đổ thành và cách thức để chấm dứt nó. Người Âu Lạc lần đầu tiên xây thành ở đồng bằng chưa có kinh nghiệm, thành dắp cao sức lún càng nhiều, vào mùa mưa lũ càng dễ sụt lở. Và thần Rùa Vàng chẳng qua là sự thần thánh hóa óc thông minh sáng tạo của con người lao động. Qua thực tế đắp thành, trải bao lần thất bại, người Âu lạc phát hiện được rằng xây thành trên nền đất úng lầy thì phải kè đá tảng mới chống được sụt lở. Vấn đề kĩ thuật xây thành đã được giải quyết, một kĩ thuật mới đã được phát minh. Đá tảng được đánh đống to như núi, đổ xuống các chân thành, rải thành hàng thành lớp, tạo nên những kè đá vững chắc dưới chân thành, kể cả những mảnh gạch, mảnh ngói, đầu ngói vỡ, mảnh khuôn giếng, phế phẩm của những lò gạch ngói, lò bát cũng được tận dụng để rải dưới chân thành và kè vào giữa các lớp đất đắp thành.

Cuối cùng thành đắp thành công, cao chót vót, đứng sừng sững hiên ngang trước giông tố bão lụt, thể hiện tài năng sáng tọa của người Âu Lạc về kĩ thuật quốc phòng, về khoa học và nghệ thuật quân sự, Thành là một công trình phòng ngự kiên cố, vừa là căn cứ bộ binh lợi hại vừa là căn cứ thủy quân quan trọng chung đúc hai truyền thống lớn về tài năng quân sự Việt Cổ : Truyền thống thạo cung nỏ, giỏi xây thành của người Âu Việt và truyền thống thạo thủy chiến, giỏi dùng thuyền của người Lạc Việt.

Truyền thuyết dân gian đã phần nào đồng hóa thần Rùa Vàng với tướng quân Cao Lỗ, một tướng giỏi, một công thần khai quốc của vua Thục .Dân gian kể rằng chính ông đã khuyên An Dương Vương từ vùng trung du về xuôi, chính ông đã giúp vua chọn đất làng Chủ làm kinh đô, chính ông đã cùng vua thiết kế qui hoạch xây dựng thành Cổ Loa. Ông được tín nhiệm cử giữ chức cửa thành phía Bắc, nơi xung yếu vào bậc nhất của Cổ Loa. Cũng chính ông đã phát minh ra nỏ liên thanh bắn một lần hàng chục phát, ông đã sai xây dựng gò Đống bắn, gò pháo đài dạy cho một vạn binh sĩ tập bắn nỏ. Vua An Dương Vương thường đứng trên đài Ngự Xạ (Góc đông bắc ngoại thành nội) xem Cao Lỗ huấn luyện quân sĩ bắn nỏ. Vua còn cử Lạc Hầu trấn giữ cửa Đông, chỉ huy đoàn thuyền chiến thường xuyên đậu trong khu vực Đầm Cả và Vườn Thuyền, từ đó có thể tỏa ra vận động khắp 3 vòng hào của thành nội, thành trung và thành ngoại phối hợp với quân sĩ đóng trên lũy thành mà đánh địch. So sánh với những thành quách ở Đông Tây đương thời, thành vua Chủ thật là lợi hại vào bậc nhất, bố trí thật chu đáo và khoa học, niềm tự hào của lịch sử kiến trúc quân sự Việt Nam.
(Theo nghiên cứu của nhà sử học Trần Quốc Vượng) (Còn nữa)

CUỘC KHÁNG CHIẾN VĨ ĐẠI CHỐNG GIẶC TẦN,
CHỐNG TRIỆU CỦA NHÂN DÂN ÂU LẠC Nhà Tần, đứng đầu là Tần Thủy Hoàng, con người “cứng rắn, khắc bạc, tự đắc”, đầy tham vọng bành trướng đế quốc chủ nghĩa, sau khi đã thống nhất toàn Trung Quốc (năm 221 trước công nguyên) đã phát nửa triệu quân xâm lược phương Nam trong đó có nước Âu Lạc.

Cuộc xâm lược qui mô lớn, và tiếp ngay sau đó là cuộc xâm lược của nhà Triệu mà nhân dân Việt cổ đã anh dung chống lại, cho thấy rằng sự xâm lược của phong kiến phương Bắc là có hệ thống.

Quân Tần tiến công ồ ạt, dần dần chiếm hết đất đai của các tộc Bách Việt ở phía nam sông Dương Tử (Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Quí Châu).Nhưng đến khi chúng đi sâu vào đất nước Âu Lạc thì bị chống cự mãnh liệt. Người Việt cổ, cùng nhân dân các tộc khác, tạm rút vào rừng, tổ chức lực lượng kháng chiến, cử người tài giỏi lên làm tướng và tiến hành đánh du kích ban đêm. Một trong người tài giỏi đó là vua Thục An Dương Vương, thaeo lời kể của truyền thuyết dân gian. Cuộc kháng chiến của người Việt cổ kéo dài hàng chục năm và đã làm tiêu hao hàng chục vạn quân Tần. Chủ tướng của giặc là Đồ Thư cũng phải đền tội ác. Chính nhà sử học Trung Quốc nổi tiếng nổi tiếng Tư Mã Thiên cũng đã thừa nhận sự thất bại ê chề của quân xâm lược nhà Tân:

“Lúc bấy giờ nhà Tần ở phía bắc thì mắc họa với người Hồ, ở phía Nam thì mắc họa với người Việt. Đóng binh ở đất vô dụng, tiến không được , thoái cũng khỗngong. Trải hơn 10 năm, đàn ông phải mặc áo giáp, đàn bà phải chuyên chở, khổ không sống nổi, người ta thắt cổ tự tử trên cây dọc đường, người chết trồng nhau. Kịp khi Tần Thủy Hoàng mất thì cả thiên hạ đứng lên chống”

Vào năm 207 trước công nguyên một viên quan lại của nhà Tần là Triệu Đà chiếm ba quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng, lập nước Nam Việt, xưng vương rồi nhiều lần phát quân xâm lược hòng thôn tính nước Âu Lạc. Sử cũ cho biết, trong các cuộc xâm lược đầu tên của Triệu Đà, toàn bộ những mũi tiến quân của y đến núi Tiên Du , đến vung Vũ Ninh
(nay thuộc các huyện Tiên Sơn, Quế Võ, tỉnh Hà Bắc ) đều bị bẻ gãy.

Truyền thuyết dân gian kể chi tiết hơn: Truớc họa xâm lăng , hàng vạn tráng sĩ Âu Lạc dưới sự chỉ huy tài giỏi của các tướng Cao Lỗ, Nồi Hầu, ông Đống và ông Vực (con của Nồi Hầu ), tiến về phía núi Tiên Du nghênh chiến với quân xâm lược Triệu bằng cung nỏ khỏe, tên đồng sắc tẩm thuốc độc, tên bắn ra như mưa, giặc chết lăn như rạ. Quân Triệu thua tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu!
thắng nổi Âu Lạc bằng hành động quân sự nên giả vờ cầu hòa với vua Thục, và An Dương chủ quan nhẹ dạ đã chấp thuận lời cầu hòa của hắn. Người đời nay lấy làm khó hiểu tại sao vua Thục đã không phát huy chiến thắng và quét sạch quân thù ra khỏi bờ cõi Âu Lạc mà lại tin tưởng một cách vội vã vào những lời lẽ hòa bình bịp bợm của Triệu Đà, cho phép y đóng quân to và tên vua nước Nam Việt xảo trá quỉ quyệt là Triệu Đà biết không thể ở lại vùng Vũ Ninh trở lên phía bắc. Ý chí xâm lược của Triệu Đà chưa bị bẻ gãy, tham vọng bành trướng của y sẽ không ngừng lại ở biên giới tạm thời đó. Sơ hở đầu tiên của vua Thục là ở tính hiếu hòa và sự khoan nhượng dễ dãi mà hậu quả khốc hại sẽ không thể nào lường nổi
 
Bên trên