Cách mạng hai miền Nam - Bắc 1961 - 1965

Dark_Love94

Cuồng Nhiệt Cùng Thể Thao
Nội dung, phân tích về Cách mạng hai miền Nam - Bắc 1961 - 1965

Miền Bắc thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm (1961 – 1965)
Về cách mạng XHCN ở miền Bắc, Đại hội III của Đảng đã xác định: “Đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thần yêu nước nồng nàn, truyền thống phấn đấu anh dũng và lao động cần cù của nhân dân ta, đồng thời tăng cường đoàn kết với các nước anh em…để đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH, xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc ở miền Bắc và củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà”.
Để đạt được mục tiêu trên đây trong thời kỳ quá độ đưa miền Bắc tiến lên CNXH, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đã đề ra 5 nhiệm vụ cơ bản của Kế hoạch KTXH 5 năm 1961 – 1965:
a) Ra sức phát triển công nghiệp và nông nghiệp, thực hiện một bước việc ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp một cách toàn diện, phát triển công nghiệp nhẹ, phát triển giao thông vận tải, tăng cường thương nghiệp quốc doanh và thương nghiệp HTX, chuẩn bị cơ sở để tiến lên biến nước ta thành một nước công nghiệp và nông nghiệp XHCN.
b) Hoàn thành công cuộc cải tạo XHCN đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và công thương nghiệp TBCN tư doanh, tăng cường mối quan hệ giữa sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, mở rộng QHSX XHCN trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
c) Nâng cao trình độ văn hoá nhân dân, đẩy mạnh công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, nhất là cán bộ xây dựng kinh tế và công nhân lành nghề, nâng cao năng lực quản lí kinh tế của cán bộ, công nhân và nhân dân lao động, đẩy mạnh công tác khoa học và kỹ thuật, đẩy mạnh thăm dò tài nguyên thiên nhiên và điều tra cơ bản, nhằm phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế và văn hoá.
d) Cải thiện đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân thêm một bước, làm cho nhân dân ta được ăn no, mặc ấm, tăng thêm sức khoẻ, có thêm nhà ở và được học tập; mở mang sự nghiệp phúc lợi công cộng, xây dựng đời sống mới ở nông thôn và thành thị.
e) Đi đôi và kết hợp với việc phát triển kinh tế, cần ra sức củng cố quốc phòng, tăng cường trật tự an ninh, bảo vệ sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc”.
Để cụ thể hoá đường lối cách mạng XHCN do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đã thông qua, TW Đảng và Chính phủ xác định những phương hướng và chỉ tiêu cơ bản phát triển kinh tế quốc dân trong Kế hoạch 5 năm và các mối quan hệ giữa nông nghiệp với công nghiệp; giữa nhiệm vụ cải tạo XHCN với tăng cường thành phần kinh tế quốc doanh; giữa nhiệm vụ phát triển văn hoá – giáo dục với đạo tạo đội ngũ công nhân – cán bộ KHKT; giữa phát triển kinh tế với nâng cao đời sống nhân dân và tăng cường sức mạnh quốc phòng bảo vệ miền Bắc và tăng cường chi viện cho miền Nam.
* Phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của CNXH:
- Về nông nghiệp:
Nhiệm vụ cơ bản của KH 5 năm là: “ra sức phát triển nông nghiệp toàn diện”. Nông nghiệp được coi là cơ sở để phát triển công nghiệp. Trong những năm đầu của KH, việc củng cố và phát triển các HTX quy mô thôn được đẩy mạnh ở đồng bằng và trung du. Trong KH phát triển nông nghiệp – nông thôn, TW coi trọng việc áp dụng những tiến bộ KHKT trong nông nghiệp, phát triển chăn nuôi, mở mang thêm nghề rừng và các nghề phụ khác, sử dụng tốt sức lao động tập thể trong các HTX, tận dụng sức lao động trong các gia đình xã viên.
Trong quá trình cải tiến quản lý, các HTX nông nghiệp đã tiếp tục chuyển lên bậc cao. Tính đến tháng 10/1961, trên 9.000 HTX (trong tổng số 41.000 HTX) đã lên cấp cao quy mô liên thôn. Trong những vụ đầu, năm đầu, hầu hết số HTX bậc cao ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ đã phát huy sức mạnh vật chất, tinh thần, tập trung cải tạo các hệ thống thuỷ lợi nội đồng, mở mang bờ vùng bờ thửa, chủ động tưới tiêu, củng cố đê điều phòng chống lũ lụt.
Để khắc phục tình trạng quản lý HTX còn kém, tổ chức lao động chưa tốt, tệ tham ô, lãng phí khá phổ biến, từ năm 1963 đến năm 1965, Đảng và Chính phủ tiến hành cuộc vận động cải tiến quản lý HTX, cải tiến kỹ thuật, nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ, vững chắc.
Nhiều công trình thuỷ lợi được xây dựng, nhiều trạm bơm, hồ chứa nước được hoàn thành, như trạm bơm sông Mã, trạm bơm La Khê (Hà Đông), công trình thuỷ lợi Ấp Bắc – Nam Hồng (ngoại thành Hà Nội), hồ chức nước La Ngà (Vĩnh Linh),… Những công trình thuỷ lợi này đã hình thành nên một mạng lưới thuỷ lợi rộng lớn, bảo đảm tưới và tiêu nước cho 73% diện tích gieo trồng.
Nhằm từng bước xoá bỏ tình trạng lao động thủ công, lạc hậu trong nông nghiệp, Nhà nước chú trọng nhiều trong việc cải tiến công cụ phục vụ, phương tiện vận tải và trang bị máy kéo và các loại máy công nghiệp cho các HTX. So với năm 1960, đến năm 1965 số trạm máy kéo tăng gấp 3,3 lần, số máy kéo phục vụ các HTX nông nghiệp tăng 7,2 lần, diện tích gieo trồng được cày bằng máy tăng gấp 14,5 lần, số máy bơm nước tăng gấp 9,7 lần…
Những biện pháp trên đã làm tăng năng suất lúa. Đến cuối 1965, có 7 huyện và 610 HTX đạt hoặc vượt mức năng suất 5 tấn thóc/héc-ta. Nông nghiệp cũng từng bước phá thế mất cân đối giữa trồng trọt và chăn nuôi; năm 1955 chăn nuôi đạt 15,3% tổng giá trị sản lượng nông nghiệp, năm 1965 đạt tới 22,9%.
Kết thúc KH 5 năm (1961 – 1965) có 90,1% số hộ nông dân vào HTX, trong đó có 60,1% HTX bậc cao, với số diện tích đưa vào sản xuất tập thể là 80,3% toàn bộ diện tích canh tác. Các HTX Đại Phong (Quảng Bình), Tân Phong (Thái Bình),… đã trở thành ngọn cờ đầu, tiêu biểu cho phong trào nông nghiệp miền Bắc ở thời kỳ này.
* Những hạn chế của nền nông nghiệp miền Bắc thời kỳ này:
Vật tư nông nghiệp thiếu trầm trọng. Lao động thủ công vẫn chiếm đại bộ phận trong các HTX, lao động cơ giới chiếm tỷ lệ không đáng kể (năm 1965 có 1,9% diện tích được cày bằng máy). Trình độ văn hoá, KHKT của nông dân chưa thay đổi bao nhiêu. Tốc độ xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật mới trong các HTX còn rất chậm. Năm 1962, trung bình mỗi HTX chỉ có 78,4ha đất canh tác, 41 con trâu bò, 55 chiếc cày bừa cải tiến, 0,3 chiếc máy tuốt lúa, 0,3 chiếc máy bơm, 10 chiếc xe và thuyền vận tải thô sơ.v.v.
Sự trói buộc của cơ chế quản lý quan liêu bao cấp, sự yếu kém về trình độ, sự lúng túng trong cách làm ăn mới, cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém, thiên tai luôn đe doạ.v.v.là những nguyên nhân chủ yếu khiến nông nghiệp phát triển chậm.
Việc hợp tác hoá và phát triển HTX bậc cao bị nhiều địa phương do chạy theo thành tích nên làm ồ ạt, không theo đúng hướng dẫn của TW, khả năng quản lý lại yếu nên dẫn đến tình trạng các HTX trì trệ, yếu kém. Bên cạnh những HTX có sự phát triển tốt, rất nhiều HTX sản xuất kém, đời sống xã viên thấp. Năm 1963 có đến 52% số hộ thiếu ăn từ 2 tháng trở lên; có 44.659 hộ xã viên xin ra khỏi HTX (chiếm 17% nông hộ toàn miền Bắc). Một số HTX có quy mô quá lớn (liên thôn, xã) do không quản lý nổi, lại phải tách nhỏ trở lại.
Rõ ràng, tư tưởng chủ quan, duy ý chí, vội vã thủ tiêu nền kinh tế nhiều thành phần, đánh đồng giữa hợp tác hoá với tập thể hoá, thiếu tôn trọng tính tự nguyện của người nông dân.v.v. đã dẫn đến những hạn chế to lớn trong nông nghiệp. Một cái nhìn chung cho thấy: nền nông nghiệp những năm đầu sau khi hợp tác hoá phát triển chưa cao, chưa vững chắc, chưa có những chuyển biến thật sự mạng tính cách mạng.
Tuy nhiên, những thành tựu của nông nghiệp, của HTX có được trong giai đoạn này vẫn có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển trong giai đoạn sau đó, giai đoạn chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ.
- Về công nghiệp:
Trong thời kỳ 1961 – 1965, Nhà nước đã dành ưu tiên đầu tư đến 48% vốn xây dựng cơ bản của nền kinh tế quốc dân để đầu tư cho công nghiệp nói chung, trong đó đầu tư cho công nghiệp nặng chiếm 80%. Nhiều xí nghiệp công nghiệp nặng với quy mô tương đối lớn và trang bị hiện đại đã được xây dựng. Một số đã được cơ khí hoá hoặc tự động hoá một phần dây chuyền sản xuất. Khu liên hợp gang thép Thái Nguyên được khởi công xây dựng từ tháng 9/1960, sau KH 5 năm đã có nhiều hạng mục công trình được hoàn thành, như nhà máy điện Thái Nguyên, Lò cao số 1, số 2 và Xưởng luyện cốc. Tháng 1/1964, nhà máy nhiệt điện Uông Bí đã đi vào sản xuất. Tháng 8/1964, công trình thuỷ điện Thác Bà được khởi công. Một số nhà máy điện phục vụ địa phương cũng được xây dựng, như ở Việt Trì, Thanh Hoá,… Đến năm 1965, sản lượng điện tăng gấp 2,5 lần so với năm 1960, trong đó sản lượng điện phục vụ nông nghiệp tăng gấp 8,4 lần 1960. Những xí nghiệp hoá chất, như Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao, Nhà máy phân đạm Bắc Giang cũng đã bước vào sản xuất trong thời kỳ này.
Trong KH 5 năm 1961 – 1965, ngành công nghiệp nhẹ cũng được chú ý phát triển, tập trung vào các ngành công nghiệp thực phẩm, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, như các nhà máy giấy, đường, miến, mì chính, sứ, pin, dệt kim… Cuối năm 1965, miền Bắc đã sản xuất gần tới 80% hàng tiêu dùng trong nước với 12.000 mặt hàng khác nhau.
Để đáp ứng sự phát triển của công nghiệp và nông nghiệp, các công trình giao thông đã được xây dựng thêm. Cầu Hàm Rồng và đoạn đường sắt Vinh – Đồng Hới đã hoàn thành. Các tuyến đường ô tô đến các huyện miền núi được mở thêm. Năm 1964, khối lượng hàng hoá do ngành đường sắt vận chuyển tăng gấp 3 lần so với năm 1938 trên toàn Đông Dương; hàng hoá vận chuyển bằng đường ô tô năm 1965 tăng gấp 6 lần năm 1955, đường sông tăng gấp 4,5 lần.
* Những hạn chế trong công nghiệp:
Điện mới chỉ chủ yếu phục vụ công nghiệp, còn nông nghiệp và thủ công nghiệp và phục vụ dân sinh thì chưa được bao nhiêu. Ngành cơ khí cũng chỉ mới đáp ứng được khoảng 10% thiết bị, còn lại phải nhập khẩu. Ngành than năng suất thấp, sản lượng không tăng, chất lượng kém, chưa đáp ứng được nhu cầu của các ngành trong nước và xuất khẩu. Ngành luyện kim mới ở giai đoạn đầu, sản phẩm còn ít ỏi. Ngành vật liệu xây dựng mới chỉ đáp ứng được nhu cầu Nhà nước, chưa đáp ứng đủ cho nhu cầu nhân dân, kỹ thuật còn thô sơ. Nhiều ngành công nghiệp nhẹ và sản xuất hàng tiêu dùng còn yếu, chưa giải quyết được sự khan hiếm hàng hoá và nhu cầu của nhân dân ngày một gia tăng(dệt, da, may mặc…).
Tóm lại, công nghiệp miền Bắc 1961 – 1965 có một bước tiến đáng kể. Phần lớn công nghệ phẩm phục vụ nhu cầu nhân dân là do công nghiệp trong nước sản xuất. Các ngành công nghiệp cơ bản như điện, cơ khí, luyện kim, hoá chất, vật liệu xây dựng, nhiên liệu, dệt, da…đã hình thành dù còn nhỏ bé, nhưng là chỗ dựa, là nòng cốt của toàn bộ nền công nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào mục tiêu công nghiệp hoá XHCN mà Đảng đề ra thì rõ ràng là nền công nghiệp miền Bắc chưa đạt được trình độ mong muốn. Giá trị sản lượng công nghiệp mới chỉ đạt khoảng 50% tổng giá trị công nông nghiệp. Sô nhân công trong công nghiệp mới chỉ chiếm 5% số người trong độ tuổi lao động. Năng suất lao động còn quá thấp. Khả năng cung cấp TLSX cho các ngành kinh tế quốc dân còn quá nhỏ bé (Ngành cơ khi mới chỉ cung cấp được 20% máy móc cần thiết, chất lượng thấp). Tốc độ phát triển công nghiệp chậm hơn so với thời kỳ khôi phục và cải tạo.v.v. Nguyên nhân hạn chế là do không giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển công nghiệp nặng với công nghiệp nhẹ, giữa xí nghiệp quy mô lớn với quy mô nhỏ, giữa xây dựng xí nghiệp mới và cải tạo xí nghiệp cũ; do KHKT chưa đáp ứng được những yêu cầu của các ngành sản xuất công nghiệp (các cơ quan nghiên cứu phục vụ sản xuất, cán bộ KHKT ít và hạn chế, khả năng quản lý xí nghiệp còn yếu).v.v. Rõ ràng, việc ưu tiên phát triển thái quá ngành công nghiệp và khu vực kinh tế quốc doanh trong kế hoạch phát triển đầu tiên này đã dẫn đến tình trạng mất hiệu quả kinh tế, phụ thuộc vào nước ngoài, nông nghiệp đình trệ. Tuy nhiên, vẫn phải khẳng định những gì mà ngành công nghiệp đạt được trong KH 1961 – 1965 cũng rất đáng kể, là bước đầu quan trọng đặt nền tảng xây dựng nền công nghiệp nước nhà.
- Về thương nghiệp quốc doanh:
Do được Nhà nước ưu tiên phát triển nên đã nhanh chóng chiếm lĩnh được thị trường, góp phần củng cố QHSX XHCN. Năm 1965, cùng với HTX mua bán, thương nghiệp quốc doanh đã bán lẻ được khối lượng hàng hoá tăng 84,3% so với năm 1960.
Riêng ngoại thương, có 35 nước ở khắp các châu lục có quan hệ buôn bán, trao đổi với nước ta (so với 1955 có 10 nước, trong đó có 7 nước XHCN). Ngoại thương phát triển đã góp phần bảo đảm cung cấp thiết bị cho công nghiệp và kích thích nhiều ngành sản xuất, đặc biệt là thủ công nghiệp, sản xuất hàng xuất khẩu.
* Phát triển văn hoá, giáo dục, y tế:
- Đời sống kinh tế phát triển đòi hỏi sự nghiệp giáo dục phát triển để nâng cao đời sống văn hoá của nhân dân. Số học sinh phổ thông năm học 1965 – 1966, khi kết thúc KH 5 năm, là 2.934.900 người (năm học 1960 – 1961 là 1.899.000). Xã nào cũng có trường cấp I; trung bình 2 xã có 1 trường cấp II. Số người học bổ túc văn hoá khoảng 1 triệu. Trình độ văn hoá của công nhân, viên chức nói chung được nâng lên ngang cấp II; trình độ cán bộ xã và HTX nâng lên ngang lớp 4 – 5. Nhiều trường phổ thông nông nghiệp, công nghiệp, trường thanh niên lao động XHCN được thành lập đã giải quyết được việc nâng cao trình độ văn hoá cho người lớn tuổi.
Ngành giáo dục đại học phát triển với 3 hình thức đào tạo: dài hạn, chuyên tu và tại chức. Năm học 1965 – 1966 có 21 trường với 3.390 giảng viên và 34.208 sinh viên (gấp hơn 2 lần 1960 – 1961 có 10 trường với 1.260 giảng viên và 16.690 sinh viên).
Hệ thống giáo dục chuyên nghiệp cũng được mở rộng, năm 1965 có 154 trường với 3.159 giáo viên và 60.018 học sinh.
Việc đào tạo giáo viên một cách chính quy được đẩy mạnh: năm 1960 có trên 44 nghìn giáo viên phổ thông và hơn 1.200 giảng viên đại học; năm 1965 có gần 79 nghìn giáo viên phổ thông và trên 2.500 giảng viên đại học.
Công tác nghiên cứu, thí nghiệm và áp dụng KHKT được đẩy mạnh. Việc nâng cao trình độ đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc đưa KHKT vào sản xuất, đặc biệt là trong nông nghiệp và giao thông vận tải.
Đánh giá một các tổng quát, có thể thấy sự nghiệp giáo dục đào tạo sau hơn 10 năm đã có một bước phát triển nhanh chóng và toàn diện, cả về ngành học, số người học, về đội ngũ giáo viên, cũng như việc xoá mù chữ, nâng cao trình độ học vấn cho các tầng lớp nhân dân nói chung. Mặc dù trình độ chưa thật cao, nhưng sự tiến bộ của trình độ học vấn đã tạo điều kiện tốt để tiếp thu đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, tiếp thu và ứng dụng các thành tựu KHKT, thưởng thức các tác phẩm văn học, nghệ thuật.
Cùng với sự nghiệp giáo dục, sự nghiệp y tế cũng đạt được nhiều thành tích đáng kể. Tính đến cuối 1965, toàn miền Bắc đã có 1.525 bác sỹ, tăng gấp 3 lần so với năm đầu KH, với 618 bệnh viện, bệnh xá và viện điều dưỡng. Khắp các xã đều có mạng lưới phòng và chữa bệnh, bao gồm hơn 6 vạn y sĩ, y tá và nữ hộ sinh với hơn 5.000 trạm y tế xã. Việc bảo vệ bà mẹ và trẻ em được chăm lo. Công tác phòng chống dịch được thực hiện tốt, các bệnh phổ biến như sốt rét, lao, đau mắt hột.v.v. được đẩy lùi.
* Về đời sống nhân dân:
Tốc độ sinh đẻ tăng nhanh, tỷ lệ chết giảm mạnh, sau 10 năm dân số tăng thêm 6 triệu người, là một áp lực đáng kể lên việc thực hện KH 5 năm.
Mặc dù Đảng – Nhà nước có nhiều cố gắng, nhưng do còn nhiều khó khăn, nên mức sống vật chất của người dân còn chưa được cải thiện nhiều. Phần thu nhập chính của nhân dân rất thấp, chủ yếu dành cho ăn, còn vấn đề mặc, ở và các chi khác là rất ít. Việc ăn cũng chỉ đang ở mức phấn đấu đủ ăn (trung bình 10kg gạo/người), nông thôn hàng năm có từ 8 – 15% thiếu ăn. Về vải mặc, trung bình mỗi người được 3,5m/năm. Mới chỉ khoảng 15% dân số có đủ chăn màn và quần áo ấm. Năm 1965, với trên 15 triệu nông dân, cứ 300 hộ mới có 1 hộ làm nhà mới, số nhà ngói chiếm 17% ở khu vực đồng bằng.
Tuy nhiên, các thành tựu về giáo dục, y tế, văn hoá lại có ý nghĩa rất lớn đối với việc không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân. Tất cả, từ những biến đổi còn nhỏ nhoi về đời sống vật chất đến những thay đổi lớn lao trong đời sống văn hoá tinh thần, đã góp phần tạo nên một sắc thái mới, một khi thế mới trong xã hội, là nguồn động lực cho các phong trào thi đua yêu nước của nhân dân miền Bắc trong thời kỳ thực hiện KH 5 năm lần thứ nhất.

 
Bên trên